Phạm Thiên Thư Và Tháng Bảy Vu Lan

09/11/201710:05 SA(Xem: 1106)
Phạm Thiên Thư Và Tháng Bảy Vu Lan

Nguồn : ĐS CHS LTQN 2017

 

Nếu đạo Công Giáo có tháng mười một  để tưởng nhớ những người đã chết, tháng dành riêng cho các Linh Hồn; thì bên Phật Giáo lại có tháng bảy, tháng cô hồn hay còn gọi là tháng Vu Lan - “Tháng của Mẹ” - tháng mà khi vào Chùa cúng Phật, mọi người đều có thể dễ dàng nhận ra hạnh phúc hay nỗi buồn của một người khi nhìn màu của bông hoa cài trên áo…

Phạm Thiên Thư là một nhà thơ được nhiều người biết đến nhờ những tác phẩm thơ dài hơi của ông (những tác phẩm dài như Đoạn Trường Vô Thanh, Tự Điển Cười, Việt Sử Thi…), và nhất là những bài thơ được phổ nhạc như “Em Lễ Chùa Này, Ngày Xưa Hoàng Thị, Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng”. Ngoài ra ông còn được nhiều người coi như một Thiền Sư vì những ý tưởng trong các bài thơ của ông...

Tôi nhỏ hơn Phạm Thiên Thư đúng một con giáp, và tuy ít khi gặp ông nhưng vẫn được ông xem như một cô em gái nhỏ, mỗi lần có tập thơ nào được phép in lại thì ông cũng đều để dành cho tôi một bản có ấn ký và đề tặng của ông, cho dù sau này đã có những lúc ông bị “bệnh quên” hành hạ, có nhiều lúc ông quên cả tên tôi và tên những người bạn thân thiết của ông viết như thế nào, chúng tôi phải viết tên mình ra tờ giấy để ông nhìn vào đó mà viết lại, mặc dù hàng ngày ông vẫn ngồi với cây bút và quyển vở học trò ở gốc cây bên kia đường, đối diện với quán cà phê “Hoa Vàng” của nhà ông để làm thơ. Đó cũng là nơi chốn tụ họp của nhiều anh em thuộc giới văn nghệ lẫn không văn nghệ  cùng ghé qua uống ly café và chuyện vãn...

Nếu không biết rõ về ông thì chắc chẳng ai có thể ngờ người đàn ông cục mịch có nụ cười hiền lành kia là một nhà thơ nổi tiếng (được cái là những người ghé quán Hoa Vàng đều biết rõ ông là ai). Ông ngồi đó, nhưng không phải ai ông cũng tiếp chuyện, ông chỉ ngồi như đó là chỗ dành cho riêng ông mà thôi. Có lần tôi nói với anh Khải (một người bạn rất thân của ông, nay đã qua đời) tôi muốn mời ông đi ăn sáng ở quán phở khô gốc từ Pleiku chuyển xuống ở gần nhà ông. Vì tôi biết tính ông khá khó, chẳng bao giờ đi đâu khỏi gốc cây trước quán cả, thế mà ông đồng ý đi ngay khiến tôi cảm động vô cùng. Mấy người bạn ngồi uống café sau đó đã hỏi anh Khải tôi là ai mà mời là anh Thư đi ngay vậy, thực ra đó cũng chỉ là cái duyên giữa anh em chúng tôi, lần nào ghé qua ông cũng cho tôi khi thì chai “Cao Tiên Dung” do ông bào chế, khi thì chai nước mà ông bảo để rửa mặt cho đẹp da. Tôi quý ông nên cái gì ông cho tôi cũng vui vẻ nhận cũng như ông vui vẻ nhận gói trà hay gói hột sen sấy của tôi

Nói vòng vo hoài mà chưa vào được điều muốn nói, quá là “nhiều chuyện“ phải không ?  Thật ra điều mà tôi muốn đề cập ở đây là mười bài thơ của ông viết khi còn là anh Phạm Kim Long, một tu sĩ Phật Giáo ở một ngôi chùa nào đó, tôi không còn nhớ vào những ngày  tháng trước năm 1975.

Mười bài Đạo Ca của ông được viết vào thập niên bảy-mươi của thế kỷ hai-mươi và được ông gọi là “Đạo Ca giữa thành vách sương mù”, mười bài Đạo Ca này lần lượt có tên là :

• Pháp thân
• Đại nguyện
• Chàng dũng sĩ và con ngựa vàng
• Quán thế âm
• Một cành mai
• Lời ru bú mớm nâng niu
• Qua suối mây hồng
• Giọt chuông cam lộ
• Chắp tay hoa
• Tâm xuân
 

Chính vì mười bài Đạo Ca này mà ông được xem như một Thiền Sư vì lời của mười bài ca này có thể coi như mười trình độ thể nghiệm tâm linh, như mười bức họa trong Thập Ngưu Đồ của Đạo Thiền

Bài một - Pháp Thân : nói về một tương giao mật thiết, xóa bỏ tất cả ý thức, mọi dấu chân tìm kiếm, một sự hòa nhập : “Xưa em là kiếp ao ưu tư mùa cuối hạ, anh làm chim bói cá đậu soi mấy mùa trăng. Xưa em là chữ biếc nằm giữa lòng cuốn kinh, anh là thiền sư buồn ngồi tụng dưới ánh trăng. Anh và em trong pháp thân cứ như hình với bóng và đã có lúc cả hai trở thành một. A ha ta tuy hai mà một, a ha ta tuy một mà hai ”.

Giống như Eva là hóa thân từ chiếc xương sườn Adam - Tuy hai mà một, tuy một nhưng vẫn là hai, thế nên Adam đã reo ca lên khi nhìn thấy nhục thể của mình nơi Eva : “Đây là xương bởi xương tôi, và thịt bởi thịt tôi“. Và chiếc xương sườn mong manh đó đã che chở và bảo vệ cho cái còn yếu đuối hơn là trái tim của Adam...

Bài hai - Đại Nguyện : với câu cuối “Thương người như thương thân, thương người như thương mình… ” hoặc “Xin làm hạt cây nhé, cho đời hiện hữu xuân… ” không cần  làm hoa khoe sắc, cũng chẳng  muốn làm cành vươn cao, chỉ xin làm hạt, tuy  nhỏ bé nhưng lại chính là mầm ươm sức sống, tạo bóng mát  cho người và cho đời… Hạt chính là căn bản của  lòng từ bi, là ý lực cứu đời cũng là tự cứu mình.

Đạo Ca ba - Chàng Dũng Sĩ và Con Ngựa Vàng : hay là Ảo Hóa ,đó là việc Ngựa Vàng đã hóa thân thành người yêu mà chàng hằng mơ ước, để cùng nhau đi suốt quãng đường tình ái, từ Pháp Thân cá nhân hòa nhập rồi vượt thoát ảo ảnh để hòa nhập vào chân lý. Đây là biểu tượng của Nhãn Thức. Một sự nhìn nhận ta trong người khác, qua mình mà hiểu và thông cảm cho người, cũng như qua người mà nhìn thấy những giới hạn của ta, để từ đó hòa nhập, yêu thương và tha thứ.

Đạo Ca bốn - Quán Thế Âm : kể về một người mẹ đi tìm con, không kể đến không gian lẫn thời gian và sức lực của mình, tìm cho đến khi sức cùng lực kiệt : “Bây giờ mẹ đã thành mơ, hơi mẹ biến thành hơi gió, bốn mùa ngồi nghe mọi nơi tiếng mẹ ru bồi hồi… Xưa là mẹ đi tìm con, tiếng mẹ ru buồn khắp chốn, bây giờ hiện thân mẹ chung, tiếng mẹ ru dịu dàng… ”. Từ chuyện tìm con mình, mẹ đã hóa thân thành mẹ chung, bởi trần gian này còn nhiều người thiếu vắng bàn tay yêu thương của mẹ vì một trong nhiều lý do nào đó, tai mẹ đã nghe được những tiếng kêu thương của những đứa con thiếu vắng tình yêu, và mẹ đã trao trái tim yêu thương của mình cho những đứa con cô đơn đó. Đây là con đường nhập thể của Nhĩ Thức, nghe được tiếng đau thương của kiếp con người mà hóa thân cứu độ.

Đạo Ca năm - Một Cành Mai :  khởi đi là tiếng khóc bi thương của những người ở lại, bị mất đi người thương yêu vì chiến tranh thù hận : “Cái chết vẫn còn kia sao cuộc sống còn mê ??? Đòi thù thì oán đời”; và cuối cùng của thù hận là gì “chỉ còn chút lệ thôi”, thế nên đặt mình trong dòng đời “tử sinh cũng là vui ”. Sự vượt thắng của con người trước nỗi lo sợ về cái chết, cho dù quan điểm thế nào “chết là hết “ hay “hẹn nhau kiếp lai sinh” thì mùi sinh tử đối với con người cũng chẳng còn quan trọng nữa, vì sống và chết chỉ là sự thay đối, là một thăng hoa trong miền miên viễn. Hương thơm của cành mai rất nhẹ nhàng và phải tinh tế lắm mới nhận ra mai có mùi thơm, đó là đặc trưng của Tỷ Thức.

Đạo Ca sáu - Lời Ru Bú Mớm, Nâng Niu : nói về hiện thể của người Mẹ tạo hóa đã ban cho con một hình vóc. Tuy nhiên nền tảng tâm linh hình thành nhân cách một con người phải trải qua tình yêu thương của người Mẹ thực sự của từng cá nhân. Nhờ có giòng sữa ngọt của mẹ, tình yêu thương không vực bờ của người mẹ đã hun đúc lên những trang anh hùng, liệt nữ của giòng giống tiên rồng : “Con ơi mẹ là thượng đế, cho con tâm lý nguyên sơ câu ru và giòng sữa quý, cho con nguyên lý diệu vời... ”, cái nguyên lý diệu vời về tình yêu thương mẹ dành cho con, và con cũng đã thấu hiểu tình yêu thương là phải cho đi... Tất cả mọi sự trên cõi đời này đều là duyên phận, nên hợp tan là lẽ thương tình... trong cõi vô thường của cuộc đời, nên Mẹ đã “Ru con rằng đời muôn lối, như mây kết hợp rồi tan, thân con là trời cao với, tim con là cõi địa đàng”.

Đạo Ca bảy - Qua Suối Mây Hồng : hay là Vô Ngôn, diễn tả cuộc chiến tranh giữa Thủy Tinh và Sơn Tinh để tranh nhau trái tim Mỵ Nương. Tình Yêu chính là câu chuyện muôn thưở của loài người, tình yêu là nguồn cội của yêu thương và tha thứ nhưng đồng thời cũng lại là nguồn gốc của chiến tranh, cuộc chiến nào cũng để lại trong lòng người những uất ức khôn nguôi cho dù kết thúc thế nào đi nữa, kẻ thắng, người thua nếu không “ngộ” ra một chân lý nào đó từ cuộc chiến đó thì luôn nuôi lòng thù hận - “cuộc chiến tranh thầm lặng” luôn âm ỷ trong lòng người. Tuy nhiên, nếu “Ngộ” ra thì như Mỵ Nương và Sơn Tinh “còn lại siêu hùng ca, thiên thư không cần chữ, sáo thần không cần lỗ vi vu trong lòng người... ”. Sáo mà không lỗ thì sao thoát được âm thanh, nhưng sự bình an đã khiến con người luôn lắng nghe được tiếng sáo trong cõi riêng của mình.

Đạo Ca tám - Giọt Chuông Cam Lộ : hay là Duy Tuệ : “Bóng đêm qua rồi, tiếng chuông vang hồi... Tiếng chuông cam lộ cho biển trầm tư, cho đời người hết ưu tư..., thời gian mãi mãi tiếng chuông xuống đời, Thiền sư xuống núi, cứu nguy cho đời, ngọt lành thơm mát từng giọt chuông vang... ”. Diễn tả ánh bình minh của tâm thức trong ba động của tiếng chuông Chùa, hình ảnh Thiền Sư Vạn Hạnh chống gậy trúc xuống núi, cưu mang cả mùa đông lạnh giá của đời người, bỗng sáng lòa thơm mát bởi giọt cam lộ vang vang tiếng chuông tịch không, Đạo Ca tám là một diễn bày công hạnh của ý thức.

Đạo Ca chín - Chắp Tay Hoa : hay là Qui Y, cả một bài thơ đều qui về một hành động “lạy” và chỉ “lạy” mà thôi “Chắp tay lạy người cho xin nụ cười. Chắp tay lạy đất cho mầm cây tươi. Chắp tay lạy nước cho mát cõi đời. Chắp tay lạy người, chắp tay lạy trời, chắp tay lạy rồi, lạy mãi không thôi... ”. Cả bài diễn tả một thái độ trân trọng, yêu thương vạn vật chung quanh, yêu thương cho đến nỗi nhìn đâu cũng thấy : “đâu không là Phật, đâu chẳng là Trời... ”; một năng lực chấp ngã nơi con người “Thần thánh đi rồi chỉ có lòng thôi, hiện hữu đây rồi không ý không lời. Tôi không là tôi, người không là người ! Mười phương mây nổi như cánh hoa trôi”.

Đạo Ca mười - Tâm Xuân :  hay Tam Giáo Đồng Nguyên, diễn tả mùa xuân về cùng với sự đổi mới của đất trời, xuân của thiên nhiên, xuân của vũ trụ hay xuân của lòng người “xuân về vũ trụ ta về lòng ta, có  thiên nhiên mới an vui hiền hòa... ”.

Mười bài Đạo Ca của Phạm Thiên Thư là một ý niệm riêng tư của ông về cuộc đời, một tư tưởng Thiền siêu thoát, nhưng với tôi mười bài này cứ như ông viết về một đại thể trong đó người Mẹ đóng vai trò chủ thể trong tất cả. Và, cứ mỗi lần nghe một âm giai nào đó trong các bài này (đã được Phạm Duy phổ nhạc) thì tôi lại liên tưởng đến Người Mẹ và Tháng Vu Lan Bồn, có thể không đúng với ý ông (tôi cũng chưa bao giờ hỏi ông về chuyện này), nhưng dù sao thì cũng “mua vui cũng được một vài trống canh”, phải không các bạn ???

Chúc tất cả một mùa Vu Lan hạnh phúc trong tình yêu của Mẹ cho dù Mẹ đã về cõi mây ngàn.

Phạm Thiên Thu

BÀI MỚI NHẤT
10/05/2019(Xem: 252)
Xã hội trước đây của thế hệ ông bà / cha mẹ mình thường quan niệm về “tuổi thọ” của một đời người là : Hễ cứ từ 59 tuổi trở xuống mà qua đời thì trên cáo phó / phân ưu ghi là “hưởng dương”. Còn ráng thêm một tuổi nữa là 60 thì được gọi là “hưởng thọ”. Đến thời đại “a còng” này, khi nói đến độ tuổi thì gộp lại thành nhóm và gọi là tắt là “U...”.
08/05/2019(Xem: 212)
Năm nay tôi đã 75 tuổi. Bình thường lái xe mua sắm, tập tành, bơi lội không thấy gì lạ, nhưng nghe vang lên con số 75 trong đầu, giựt mình, mới thoáng đó mà đã vào tuổi “thất thập lai hy”. Mới ngày nào đó còn đạp xích lô, cắt cỏ, còn làm homework, đỗ bằng Master, đi dạy học trò ở San Jose, giờ đã thành ông cụ rồi sao.
07/05/2019(Xem: 182)
... Hắn chỉ kịp kéo một góc mền phủ kín lên vai thì không còn tự chủ được nữa. Đầu hắn gục xuống vai tên bộ đội trong một trạng thái hoàn toàn vô thức. Mọi cảm giác bỗng trở nên hụt hẩng, nhẹ tênh… và thình lình vụt xuống thật nhanh như thể hắn vừa từ trên cao bước hụt chân ngã nhào vào một trũng tối đen sâu thẳm nào đó...
07/05/2019(Xem: 194)
Màn đêm từ từ phủ xuống ngọn đồi 1062 nơi trước đây cây cối um tùm, nay trông như một ngọn đồi trọc. Ngoài một vài thân cây bị gãy ngang vì bom đạn đứng chơ vơ, còn lại thì hầu như tất cả đều trở thành bình địa. Rải rác một vài dây khói sót lại trong những giao thông hào đã sụp đổ vì đạn pháo kích và chen lẫn giữa mùi tanh tưởi của máu tươi, người ta còn ngửi được mùi khét lẹt của thịt người bị cháy...
23/04/2019(Xem: 263)
Thật cảm động vô cùng khi thấy ai cũng lo lắng và thương cho anh hết. Phần em chỉ còn biết cầu mong Ơn Trên che chở cho anh thoát qua cơn bệnh hiểm nghèo này. Vậy là chuỗi ngày gian nan của bọn mình vẫn còn dài… anh há !? Đêm nay thao thức chờ sáng, em thầm khấn vái Thần Núi Thánh Rừng phò hộ cho anh của em sớm được tai qua nạn khỏi để về với gia đình, với em...
22/04/2019(Xem: 220)
Người ở miền Đông hỏi tôi, nếu về thăm Little Saigon, tôi sẽ cho anh ăn gì, đưa đi đâu ? Tôi xin trả lời, sẽ đưa anh chị đi thưởng thức các món ăn, thức uống Việt Nam. Ngoại trừ thịt chó, tiết canh và rượu rắn, ở đây cái gì cũng có, từ phở, chả giò, bì cuốn, bún riêu, bún ốc, bún chả, cá nướng… và các món uống đặc biệt xứ này