Những chuyến tàu

01/07/20209:30 CH(Xem: 233)
Những chuyến tàu

nguyen 02Tôi bật dậy như một chiếc lò xo khi nghe tiếng cánh cửa căn phòng nhỏ trong toa tàu hé mở, gã cán bộ trẻ bước vào ngồi xuống chân giường. Căn phòng quá nhỏ chỉ vừa đủ để một chiếc giường bề ngang nửa mét và chiều dài đủ để ngã lưng. Hắn cười làm thân, còn tôi co rúm như một con sâu, dựa sát vào vách tàu im lặng sợ hãi. Chiếc tàu vẫn lao rút trong đêm theo tiếng xập xình của đường ray. Gã không nhìn tôi nữa nhưng vẫn ngồi đó, mắt lim dim trong cái bóng mờ của ngọn đèn điện thật nhỏ trên nóc toa tàu. Tôi rùng mình, chỉ có gã mới có chìa khóa phòng. Tôi muốn thoát ra ngoài nhưng không thể nhích ra mà không trườn ngang đùi gã được.


Hai ngày dài đăng đẳng với hai chuyến bay từ Houston về Sài Gòn, tôi mệt lả cả người. Bước xuống phi trường một giờ trưa, cái nóng tưởng như bốc từng lớp da thịt, tôi ra ngay nhà ga mua vé tàu về Qui Nhơn. Vì vé nằm hết , nên phải mua hai vé ngồi cho mẹ và tôi. Thấy tôi không thể chịu đựng nổi thêm 12 tiếng đồng hồ ngồi trên tàu, mẹ tôi đã hỏi mua lại chỗ nằm qua đêm của nhân viên kiểm tra vé tàu với giá cắt cổ, đó là lý đó tôi rơi vào tình trạng khó xử hiện nay.  Bỗng dưng gã quay lại hỏi tôi : "Đi buôn hả ?". Tôi lắc đầu. "Mệt lắm hả ?". Tôi không trả lời, rùng mình nghĩ đến những phụ nữ đi buôn đáng thương sau 1975.  Hắn mở cửa bước ra ngoài, tôi thở ra nhẹ nhõm, dựa lưng vào vách tàu, hé nhẹ cánh cửa sổ nhỏ. Làn gió mát mang theo hương đất ẩm trộn lẫn mùi lúa chín. Tôi nhắm mắt lại để tận hưởng mùi thơm ngọt ngào của đất quê, quá khứ và những chuyến tàu đi qua trong đời lần lượt hiện về trong trí.


Nơi tôi ở là một thành phố nhỏ, từ Sài Gòn ra Bắc hoặc ngược lại phải xuống ga Diêu Trì để đi vào thành phố. Qui Nhơn có bờ biển Nguyễn Huệ rợp bóng dừa và ngôi trường Nữ Trung Học thân yêu nằm cạnh bờ biển. Thành phố đặc biệt có phi trường nằm tại trung tâm, có địa danh "Eo Nín Thở " là mút cuối của phi đạo để máy bay cất cánh vút vào trời cao trên biển rộng. Con đường đẹp nhất, theo tôi, là đường Lê Thánh Tôn, dù chỉ có một đoạn ngắn nhưng thênh thang và đầu đường là ngôi nhà thờ với tháp chuông cao vút và cuối đường là biển rộng trải dài mênh mông, xám ngắt, với tượng Đức Trần Hưng Đạo trên ngọn núi Hải Minh xa xa, mờ ảo.


Có người bảo tôi Qui Nhơn là "người rùa". Vâng ! Thật vậy, đó là con rùa trong truyện cổ tích "Thỏ và rùa thi chạy" ngày xưa. Con rùa không ồn ào như người miền Nam, không ngọt ngào như người miền Bắc. Con rùa mà tôi thường đùa với chồng là có ba chữ ch : chậm chạp (nhưng) chắc chắn và chơn chất, nó đã thắng con thỏ huênh hoang và tự đắc nhờ đức tính khiêm tốn và kiên nhẫn. Người Qui Nhơn nói riêng và Bình Định nói chung rất chơn chất nhưng hào hùng, bởi vì họ mang trong người dòng máu của vị vua Quang Trung lừng lẫy tiếng tăm. Phong cảnh qui Nhơn rất hữu tình, làm lòng người dân Qui Nhơn lãng mạn và phong phú, không trách sao nhạc sĩ Trịnh công Sơn đã nổi tiếng nhờ Biển Nhớ khi sáng tác tại bờ biển Qui Nhơn, và nhà thơ bạc mệnh Hàn Mặc Tử đang nằm yên trên dốc Mộng Cầm, đã từng rên xiết khi biến nàng trăng trên biển thành nguồn thơ bất tận, 

                      
Trăng ! Trăng ! Trăng ! Trăng !

Thả nàng ra, hãy thả nàng ra !
Nàng là châu báu của ta trên đời
Để trăng , trăng chạy đường trời
Ta ru một tiếng trăng rơi tức thì !

 

Tôi ra trường tháng 11-1974 và chọn nhiệm sở về dạy tại trường trung học Tăng Bạt Hổ, Hoài Nhơn, đó là huyện nằm ở mạn Bắc của tỉnh Bình Định.


Lúc bấy giờ tình hình không an ninh và trường dời vào Qui Nhơn, nằm bên cạnh trường Nữ Trung Học. Sau biến cố năm 1975, tôi được lệnh theo trường về lại thị trấn Bồng Sơn, cùng với thầy Vương Quốc Tấn, Lê Đức Bé, Nguyễn Thậm, anh Nguyễn Xuân Thưởng và Vương Đình Trí, lúc bấy giờ tôi chỉ tròn 23 tuổi.


Qua hai ngày xếp hàng từ 2 giờ sáng vẫn không mua được vé xe đò, ba tôi đành đưa tôi lên tàu, lúc bấy giờ đường xe lửa chỉ đến được Phù Mỹ. Ba tôi cầm tay tôi trấn an "Từ đây con đón xe đò ra Bồng Sơn, không xa đâu nhưng Ba phải về". Tôi leo lên chiếc xe lam ọp ẹp mà nước mắt cứ ứa ra, tôi sẽ đến một nơi xa lạ, không người quen biết, không chốn ăn ở, mang tâm trạng hồi hộp đi vào thị trấn. Nhưng tôi đã yêu ngay cái thị trấn nhỏ được đón tiếp bằng dòng sông Lại Giang xinh xắn với dòng nước trong xanh và với một nhịp cầu xe lửa còn sót lại, trơ vơ giữa dòng nước, nhịp cầu trông hùng vĩ dù rất lẻ loi. Tôi yêu con đường nhỏ Trung Lương dọc theo dòng sông với hai hàng dừa mà ngày tôi đến, đã gần như bị cắt cụt vì chiến tranh tàn phá.


Không có Ban Giám Hiệu, không có phòng giáo dục, tôi đã ngỡ ngàng lang thang trên đường phố thị trấn mà lo sợ. Đêm tối đã tới, may gặp bác Nam Sanh đã đem về cho ngủ trọ vài hôm.


Học trò của tôi, những đứa trẻ nông thôn bình dị và lực lưỡng, chúng sống hiền hòa với tâm hồn thánh thiện, chúng dễ tin và yêu ngay câu nói "vĩ đại" : "Hãy xây dựng xã hội, đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên" - Ông Hiệu Trưởng già nói với tôi rằng :  "Với XHCN ưu việt, nên không phân biệt, các đồng chí có biết tụi Mỹ Ngụy chúng xem thường phụ nữ, nên không cho trai gái học chung không ?". Và thế là không còn trường Nam, trường Nữ. Các cô gái mới lớn tha hồ ẻo lả, làm duyên; còn các chàng trai thường phô trương sức mạnh, làm anh hùng trước phái đẹp.


Những ngày đi lao động (mỗi tuần có một ngày thứ năm) năng xuất tăng rất cao, nào là đốn cây rừng ở Hoài Hảo, đập chuột ở Thiện Chánh và nhất là xây dựng đường rây xe lửa từ Bồng Sơn đến ngã ba Bình Minh rồi ra Tam Quan... đâu đâu cũng có bàn tay lực lưỡng của học trò tôi, gánh từng đống đá gạch để cho đoạn đường xe lửa được thông suốt. Những đêm nằm sau hiên nhà nhìn trăng, nghe tiếng tàu trong đêm, lòng tôi man mác và nôn nóng trông mau đến cuối tuần để được đón tàu về Qui  Nhơn. Những chuyến tàu còn vắng khách cho đến Phù Mỹ, xa xa đã nhìn thấy thầy Tài, cô Hiệp. Đến Phù Cát đón Kim Phú, Tuyết Đào, Mỹ Kha, Tôn Thất Biên...


Tàu nhặt lên từng mảnh tâm hồn rã rời, những khuôn mặt ngao ngán chỉ còn biết gật đầu chào nhau, ngồi nhìn nhau thở dài mệt mỏi sau một tuần đối phó. Tàu đi trong đêm tối, trời đen bên ngoài, tàu đen không có bóng điện bên trong, đen như tương lai mù tối. Đến ga Diêu Trì, chân bước chập choạng trên đá gập ghềnh, mắt bị lóa đi vì ánh điện, hậu quả của những ngày dài chỉ biết ánh đèn dầu lù mù le lói. Phải đổi tàu để vào Qui Nhơn, và khi nghe tiếng reo hò của đám trẻ con, cái cảm giác hạnh phúc ùa đến, được nhìn thấy con đường vào Tháp Đôi bên tay trái và bên phải là vách núi Bà Hỏa với cây thánh giá nằm cheo leo trên đỉnh núi. Cách đường ray một khoảng ngắn là những căn nhà san sát nhau chạy giật lùi ra sau. Đoàn tàu đem niềm vui cho đám trẻ reo hò, nhưng đã gây ra không biết bao nhiêu tai nạn thương tâm.


Nhìn đám trẻ con, tôi nhớ lại những ngày còn bé, cuối tuần thường theo Ba đón tàu từ Đà Nẵng ra Huế thăm Nội. Hình ảnh ba tôi ngồi vắt vẻo trên thành cửa sổ, hai chân bỏ hẳn ra ngoài hứng làn gió mát khi con tàu lao vút, gió thổi tóc Ba tôi hất hẳn ra sau, tôi yêu cái trán rộng của ông. Và cho đến hôm nay đã gần 50 năm, tôi vẫn không quên cái cảm giác ngày nào, khi đoàn tàu chui vào hầm. Từ ánh sáng chói chang ban ngày, tàu hú còi và ánh sáng giảm dần, giảm dần rồi tắt hẳn, một màn tối đen ngòm trong toa tàu. Tôi ôm thật chặt Ba tôi vừa thích thú vừa sợ hải, tàu vẫn lắt lư theo đường ray, tôi thường ló đầu ra ngoài để nhìn về phía đầu tàu, khi thấy một bóng sáng tròn, chỉ là một điểm, rồi lớn dần như miệng giếng và ánh sáng được trả lại dần cho đến khi tàu ra khỏi hầm. Tiếng còi tàu vang lên như tiếng gầm của chúa tể rừng xanh, oai hùng và hách dịch.


Sau 1975, tôi có dịp về Huế bằng tàu hỏa và cố tìm lại cảm giác ngày còn bé, nhưng khi ánh sáng tàu vừa tắt, tôi nghe tiếng một người đàn bà hét to giận dữ : "Đồ mất dạy", thì ra một gã đàn ông đã để tay lầm chỗ một cách cố ý, và khi ánh sáng trở lại, tôi thấy mọi người ôm chặt xách tay hơn, có người đổi cả thế ngồi, đè hẳn lên cả đồ đạc của mình. Căn hầm và bóng tối giờ đây đã trở thành điều kiện thuận tiện cho những ô uế, gian manh, cướp bóc... một sự hỗn độn mất trật tự, thoái hóa đời sống. Hình như từ sau 1975,  miền Nam đã được "giải phóng" ra khỏi cái văn minh và lịch sự, xã hội đã đi lùi vào trong bóng tối theo chế độ 8 ký gạo và 3 kg khoai độn cho cán bộ nhà nước, dân chẵn còn gì nữa. Cái ăn không có, thì cái giá trị đạo đức và tinh thần cũng không còn theo. Nhìn một gã con trai 18 tuổi đang la hét và đánh đấm một đứa bé trai khoảng 10 tuổi, xách bình chè xanh bán nước uống trên tàu. Thằng bé qụy té, nước mắt ràn rụa. Tôi hỏi : "Ba mẹ con đâu ? Sao con phải bán nước chè trên tàu để bị đánh ?". Đứa bé thút thít trả lời : "Ba con đi cải tạo, mẹ đi dạy không đủ nuôi hai anh em con, nên con phải phụ Mẹ, nhưng các anh lớn cứ bắt nạt con, bắt con phải nộp tiền". Lúc đó, cổ tôi như có cái gì nghèn nghẹn, tim tôi đau nhói, mắt tôi cay. Hình như cái xã hội này không còn tình người chỉ vì cái đói  ! Tương lai đứa bé sẽ đi về đâu ? Ngày nào cháu sẽ được gặp lại người cha ? Tội tình gì để chịu án lệnh cải tạo không biết ngày về ? Và người vợ phải tảo tần buôn bán, đôi khi bán cả thân xác để nuôi con ? Họ có tội không ? Vậy miền Nam đã được giải phóng ư ?


Những chuyến xe lửa đã không còn hấp dẫn tôi nữa, nhưng vẫn phải chen chúc, phải trèo lên từng đống gạo, hay đôi khi phải bò lên trên những hàng hoá linh tinh, ngồi co ro trong một góc nào đó, tay ôm bảo vệ cái đầu không bị những thanh củi từ ga Vân Canh, La Hai hay Phước Lãnh, quăng tới tấp lên tàu bất kể mọi điều, miễn sao củi và người lên tàu là được. Họ la hét, chửi bới, đánh nhau, nhưng ai có thể trách họ được ? Họ không muốn như vậy, nhưng xã hội đã xô họ đến cuối đường, đã đẩy những người dân hiền lành, vô tội phải vùng vẫy để sống bằng mọi giá.


Tôi vẫn có cái thú đứng giữa hai toa tàu để nhìn ra phía trước, xa xa cảnh vật giật lùi ra sau, tàu lao vun vút, tiếng xình xịch vẫn là một điệu nhạc êm tai. Bỗng tàu giật mạnh, một con trâu bị hất văng ra lề, máu ứa ra trên đầu, tôi chán ngán bước vào trong. Tàu đang chạy đều đến một khoảng rừng vắng vẻ, tối tăm, bỗng dừng lại. Nhìn quanh không thấy sân ga nào cả. Tôi hỏi ông lão ngồi bên cạnh : "Bác ơi ! Sao tàu dừng lại giữa rừng trong đêm vắng thế này ?". Ông già từ tốn trả lời : "Có gì đâu con, bác tài không nhìn thấy con trâu khi nãy, nhưng tờ giấy bạc ‘bác Hồ’ dán trên đường rây thì thấy, phải dừng lại cho con buôn chuyển hàng chứ ?".


... "Con ơi ! Sắp đến ga Diêu Trì rồi ". Tiếng Mẹ tôi đánh thức tôi ra khỏi giấc mơ của thời quá khứ 30 năm về trước. Tôi kéo rộng cánh cửa sổ, bên ngoài trời dần sáng, màn sương còn phủ một lớp mờ mờ trên ruộng lúa xanh. Gió sớm lay động ngọn lúa ẻo lả như mơm man trên da thịt con gái phủ lớp phấn mịn màng. Xa xa, làn khói và mùi thơm rơm rạ bốc lên từ những căn nhà lá, quyện hương vào gió, vào mùi đất ẩm, cái mùi thơm quí hiếm khó tìm thấy ở những thành phố văn minh. Và những đứa trẻ con ôm cặp đi bộ đến trường trên con đường làng đất đỏ. Quê hương tôi mộc mạc mà đẹp vô cùng, cái đẹp không màu mè son phấn, cái đẹp của linh hồn trong đất. Thượng tọa Nhất Hạnh đã viết :

Khi tôi ở, đất là nơi tôi ở

Khi tôi đi, đất bỗng hoá tâm hồn

Vâng, tôi trở về đây, về tìm lại tâm hồn của tôi với tháng ngày thơ ấu, cho dù gặp những bộ mặt xa lạ, những căn nhà thay chủ, những con đường đã đổi tên. Nhưng với tôi, vẫn là đường phố Gia Long, Võ Tánh, Phan Bội Châu, Nguyễn Huệ.....dù bao năm xa cách, vẫn thấy thân quen như ngày nào.

           

Trong khi ta về, lại nhớ ta đi

Đi lên non cao, đi về biển rộng

Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn nói đúng, chân chưa đặt lên ngôi nhà cũ, lòng đã thấy không bình an. Mong ước về sống lại trên quê hương khó thành khi ý thức hệ bất đồng, cách sống không còn phù hợp, và còn con, còn chồng đang ở nửa vòng trái đất cách xa.


Tôi về để tìm lại tôi, nhưng tôi đã bị đánh mất ở đâu ? Tôi phải kiếm tìm ở đâu ? Chuyến tàu cuộc đời tôi sẽ dừng lại sân ga cuối trên quê hương tang thương hay trên đất nước tạm dung xa lạ ? Tôi không biết ! Không biết ! Ai giúp tôi trả lời đây ?


Peace Nguyễn

(Houston 4/2006)                                                           

BÀI MỚI NHẤT
02/08/2020(Xem: 56)
Nếu ai hỏi tôi, ảnh hưởng lớn nhất để tôi trở thành người ngày hôm nay, biết rung động trước hình ảnh của Ngoại già lầm lũi quang gánh đổ bóng gầy dưới ánh đèn vàng, biết nhung nhớ một khe gió luồn qua hai tấm ván hở của vách tường ngày xưa nhà Mẹ, biết man mác buồn mỗi khi đến hè và trống vắng với một tiếng gà khan gáy ở sau đồi,... Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.
26/07/2020(Xem: 94)
Ngày mai, tôi phải đi viện dưỡng lão… Không phải bất đắc dĩ, thì tôi cũng không muốn đi viện dưỡng lão đâu. Nhưng mà từ khi sinh hoạt hàng ngày không còn có thể tự xoay xở, mà con gái vừa làm việc bận rộn vừa phải chăm sóc cháu trai, không rảnh để quan tâm mình, đây dường như là sự lựa chọn duy nhất đối với tôi.
20/07/2020(Xem: 135)
“Một thế hệ ngoảnh mặt lại với lịch sử là một thế hệ không có quá khứ – và cũng không có tương lai” (Robert A Heinlein) Là một học sinh từng say mê môn Sử, tôi không thể tưởng tượng được, có một ngày môn học đó bị khai tử !
18/07/2020(Xem: 134)
Con người là cả trời mâu thuẫn. Có những lúc chúng ta cảm thấy rất đau khổ, buồn bã và luôn than vãn "Sao tôi khổ quá vậy Trời?". Nhưng cũng có những lúc chúng ta thấy tâm hồn phơi phới, đất trời ngời sáng và niềm vui dâng lên trong lòng. Bạn có muốn những phút vui tươi và hạnh phúc kéo dài và những giây phút buồn chán giảm thiểu không ?
01/07/2020(Xem: 233)
Qua hai ngày xếp hàng từ 2 giờ sáng vẫn không mua được vé xe đò, ba tôi đành đưa tôi lên tàu, lúc bấy giờ đường xe lửa chỉ đến được Phù Mỹ. Ba tôi cầm tay tôi trấn an "Từ đây con đón xe đò ra Bồng Sơn, không xa đâu nhưng Ba phải về". Tôi leo lên chiếc xe lam ọp ẹp mà nước mắt cứ ứa ra, tôi sẽ đến một nơi xa lạ, không người quen biết, không chốn ăn ở...
30/06/2020(Xem: 243)
Vinh kể tiếp : “Hôm sau, may quá khách sạn gọi cho biết họ đã tìm ra tấm thẻ bài đó và sẽ cho người đem vô Cam Ranh cho em. Em mừng quá, mừng đến chảy nước mắt, còn mừng hơn bắt được vàng. Em cũng không quên hậu tạ cảm ơn người đem tấm thẻ bài lại cho em. Vậy là anh Thanh lại phù hộ cho em nữa rồi... "