Duyên Số

14/11/20176:00 SA(Xem: 1539)
Duyên Số

Tôi sinh ra và lớn lên từ thành phố biển đẹp mộng mơ. Tuổi thơ tôi được ôm ấp bởi tiếng sóng biển vỗ rì rào, bởi không khí trong lành, bởi tình thân của những thằng bạn chân chất thật thà xứ Nẫu thân thương của tôi.

 

Mấy năm đầu đi học là những bước chân dọ dẫm đến trường trong đêm tối, là những buổi đang học phải vội vã chạy ẩn núp máy bay cùng với tâm trạng phập phồng lo sợ. Sợ tàu bay ập tới dội bom, nên có khi phải đi học vào ban đêm và xách đèn dầu phụng theo. Sợ tàu thủy Tây đổ bộ càn quét. Sợ đến nỗi hồi đó chính quyền phải chia nhau canh gác trên ngọn núi Bà Hỏa hay còn gọi là Núi Kho. Đỉnh núi này là địa thế cao nhất nhìn rõ ra biển, có đóng hai cây sào tre thật cao để toàn thành phố nhìn lên thấy rõ. Trên hai cây sào này người ta treo hai cái bồ, để khi người canh gác thấy tàu Tây tới từ xa thì kéo cái bồ lên ở vị trí nửa cái sào. Tàu đến gần hơn thì kéo bồ lên ngọn sào. Tàu đến gần hơn nữa thì kéo một bồ rưỡi. Tàu sắp tới nơi và đậu trước cửa biển thì lập tức kéo hai bồ lên đỉnh cây sào và còn hạ xuống kéo lên nhiều lần để chứng tỏ gấp rút. Đấy là ban ngày, còn ban đêm thì kéo đèn thay cho cái bồ. Đồng thời đánh gõ kẻng và trống tới tấp liên hồi, báo cho dân trong phố biết là Tây sắp đổ bộ tới nơi để dân chúng kịp bồng bế nhau chạy trốn. Có lần cả thị xã phải bỏ nhà cửa tản cư về quê như An Nhơn, Phù Cát, Phù Mỹ, Phú Tài, Gò Bồi... Có khi vì thời gian khá lâu gần nửa năm nên bà con thời bấy giờ gọi là “Trận càn sáu tháng”.

 

Tình hình nhiễu nhương lộn xộn, đời sống người dân vô cùng cơ cực, làm đầu tắt mặt tối mà cơm không đủ ăn, áo không đủ ấm. Học sinh thì được ăn “bánh vẽ”, nào là “Anh Hùng Tí Hon”, nào là “Cháu Ngoan Bác Hồ” (sic !), v... v... Bởi vậy học sinh chỉ lo la cà nghe ngóng tin tức, bắt Việt Gian phản động; lo bắt chuột diệt sâu ruồi... có lo học hành gì đâu !

 

May thay, ngày 20 tháng 7 năm 1954 Hiệp Định Genève ký kết, quân đội Pháp rút ra khỏi Qui Nhơn. Vậy là dân chúng đã tản cư đến các vùng yên tĩnh được hồi cư trở về Qui Nhơn. Bấy giờ Qui Nhơn gần như không còn nhà cửa, chỉ trơ lại những nền nhà hoang, những ụ cát với bãi xương rồng...

 

Mấy tháng sau thì Việt Minh tập kết ra Bắc từ hải cảng Qui Nhơn bằng tàu thủy. Trong thời điểm này thì gần một triệu người ở miền Bắc di cư vào Nam. Chính quyền Quốc Gia tiếp thu liên tỉnh Nam - Ngãi - Bình – Phú. Chân trời mới ló dạng, cuộc sống khởi sắc, dân chúng làm ăn ngày một phồn thịnh. Nhà cửa đường sá và nhất là trường học được chính quyền quan tâm sửa sang cho học sinh được đến trường học đều đặn hằng ngày. Đa số học sinh đều lớn tuổi vì chiến tranh nên thất học; phần vì giấy tờ bị thất lạc nên phụ huynh cần phải làm Giấy Thế Vì Khai Sinh cho con mình được đến trường.

 

Năm đó tôi xin được vào lớp Nhì trường Mai Xuân Thưởng gần chợ Qui Nhơn, sau được đổi qua trường Nguyễn Huệ. Bản tính ham chơi vẫn luân lưu trong dòng máu tụi nhỏ chúng tôi, nên trong túi đứa nào cũng có con vụ đẽo bằng gỗ để đánh vụ; mấy viên bi bằng đá mài tròn trĩnh để đánh bi; và mấy đồng xu đánh đáo hay những vỏ bao thuốc lá xếp lại thành hình tam giác để đánh đáo thay cho đồng xu. Tụi tui hẹn nhau đi học sớm, đến mấy điểm hẹn như nền nhà của mấy người Tây bỏ hoang để đánh bi, đánh đáo, đánh vụ. Đến chiều tan trường thì hẹn nhau xuống bờ biển chia phe đá banh. Trái banh làm bằng lá buồm ghe cũ buộc tròn lại. Chạy nhảy một lúc mệt nhoài, cả bọn “thoát y 100%” nhào xuống biển bơi lội thỏa thích. Đôi khi tôi cũng bị cười ra nước mắt, lạy van mấy thằng bạn chơi cắc cớ đem quần áo giấu đi.

 

Thật tình mà nói tụi tui chơi với nhau rất hợp nên đôi khi quên cả thời giờ. Đến khi biết trời đã chạng vạng tối, tôi vội vã chạy về, nếu may không gặp ai là... thoạt nạn. Có lúc gặp “Ông Già” tôi tay cầm roi đứng đợi ngoài cửa thì coi như... “đời tàn”. Cha tôi bắt tôi nằm dài úp mặt xuống phản gõ. Rồi thì, lớp giảng moral lớp nhịp roi và quất thẳng vào mông, mỗi roi là một lằn trên mông. Thằng con sợ quá, vừa khóc vừa van lạy hứa hẹn mọi điều. Nhưng chứng nào tật nấy, mấy bữa sau lại rong chơi cùng chúng bạn. Có lẽ tại tôi tuổi Ngựa nên chạy như ngựa, rong chơi ngoài đường. Tuy nhiên chuyện học hành không tệ lắm nên năm nào tôi cũng được lên lớp.

 

Năm 1957 tôi thi đậu vào Đệ Thất trường Cường Để. Vào được trường Công Lập Cường Để là mừng hết lớn vì nhiều lý do. Thứ nhất là trường dạy hay, thứ hai là đỡ cho cha mẹ khỏi tốn tiền học phí, thứ ba là có dịp “lấy le” với mấy thằng trong xóm “Ta đây học giỏi mới thi đậu vào trường Cường Để”.

 

Điều đặc biệt nhất là Cô tôi hứa cho tôi chiếc xe đạp mới toanh trị giá hai-ngàn đồng và lắp ráp theo ý thích của mình tại tiệm xe đạp Rồng Xanh trên đường Gia Long - Qui Nhơn. Cô tôi còn may cho tôi hai bộ quần xanh áo trắng để mặc theo đồng phục của trường và dẫn tôi đến tiệm giày Tân Tiến, đo chân đóng cho tôi một đôi giày nâu kiểu rọ heo; đế giày có đóng đinh đỉa nên khi đi thì nghe cộp cộp. Tôi mặc đồ mới mang giày cure đi xe đạp mới, trông tôi đẹp trai và lớn hẳn lên các bạn ạ !

 

Ở cấp lớp Đệ Thất tôi học lớp Thất 4. Lớp tôi học là hai giờ Pháp Ngữ và hai giờ Hán Tự; còn ba lớp Thất kia (1,2,3) thì học hai giờ Pháp Ngữ và hai giờ Anh Ngữ. Khi lên Đệ Lục thì chỉ còn học một sinh ngữ chính là Pháp hoặc Anh. Tuy nhiên vẫn có một giờ học Hán Tự. Đến cuối năm thì lớp nào lên lớp đó, tức là bốn Đệ Thất lên bốn Đệ Lục; nhưng Lục 1 và Lục 4 là Pháp Ngữ, còn Lục 2 và Lục 3 là Anh Ngữ.

 

Tôi thầm nghĩ Anh Ngữ hay Pháp Ngữ gì cũng vậy nên tôi không ghi tên qua lớp Anh Ngữ. Tới khi các bạn trong nhóm biết tin này mới la tôi và nói thiếu tôi là thiếu cầu thủ, nên các bạn thuyết phục tôi đổi qua lớp Lục 2 cùng chung lớp và thời khóa biểu để dễ đi chơi chung, nhưng trễ rồi biết làm sao đây.

 

Bạn Trần Quang Hoài an ủi tôi “Còn nước còn tát... Mày với tao lên văn phòng xin Thầy Hiệu Trưởng, may ra Thầy cho”. Sau vài ngày đắn đo nặn óc suy nghĩ ra lý do chính đáng. Có lý do thuyết phục rồi tôi mới dám lên văn phòng. Đứng trước Thầy Hiệu Trưởng, tôi vòng tay lễ phép, miệng ấp a ấp úng “Dạ thưa Thầy...”. Thấy cử chỉ lúng túng của tôi khác mọi ngày, Thầy lên tiếng “Trò có việc gì cần Thầy giúp cứ nói ra”. Tôi nghe vậy hơi vững bụng, liền thưa “Dạ thưa Thầy... Nhà con năm nay có cho mấy anh lớn tuổi từ quê xuống trọ học. Các anh ấy đều học sinh ngữ chính là Anh Ngữ cả, nên con xin phép Thầy cho con ghi tên sang lớp Lục 2 học Anh Ngữ, vì mấy anh con có hứa là tối về sẽ dạy kèm cho con môn này”. Tôi nói chưa hết câu thì Thầy Hiệu Trưởng giậm chân, la lớn “Khi xưa anh lấy vợ đầm Pháp, nay thấy phụ nữ Ăng-lê đẹp, anh đòi lấy vợ Ăng-lê bỏ vợ đầm Pháp hả ?”. Hồn vía tôi lên mây, tránh tia nhìn giận dữ của Thầy, nhìn sang hướng khác. Tôi bắt gặp ngay cái nháy mắt cọng thêm bàn tay ra dấu xua xua tôi “Về lớp học đi” của Thầy Chiếm.

 

Tôi bị Thầy Hiệu Trưởng la nên sợ hãi run lẩy bẩy đi ra và mang theo tâm trạng không hiểu Thầy Chiếm ra dấu cho mình ngầm ý nói cái gì đây ? Đến tuần sau xem yết thị, thấy tên mình ở danh sách Lục 2, tôi vui mừng hớn hở; và vỡ lẽ ra hiểu được ý nghiã cái nháy mắt của Thầy Chiếm. Sở dĩ Thầy Chiếm nhớ tên tôi vì tôi làm Lớp Trưởng thường đem sổ sách lên văn phòng. Sau này tôi có tìm cơ hội cám ơn sự giúp đỡ của Thầy.

 

Không ngờ việc đổi môn học, đổi lớp học này của tôi đã đổi luôn cuộc đời và định mệnh của mình. Những năm Thất - Lục - Ngũ tôi còn bé chưa lấm bụi đời bụi tình, vui đùa cùng bạn bè xả láng. Đến Đệ Tứ - tuổi mười-chín mộng mơ - tính tình khi vui lúc buồn, khi trầm tư lúc lắng đọng; lại hay để ý đến bề ngoài, quần áo luôn là ủi thẳng nếp, đầu tóc chải chuốt rẽ ngôi ngay ngắn. Tôi bị mấy thằng bạn chọc ghẹo “Chết mày rồi... Mày đang đi vào bể khổ mà không hay”.

 

Hình như tụi nó nói đúng, vì tôi đã bắt đầu để ý đến phái kẹp tóc; đặc biệt là nhỏ Bắc Kỳ miệng mồm láu ta láu táu ngồi bàn thứ ba. Nhỏ này không thuộc “trường phái đẹp” ngoài nụ cười tươi, khi cười thì mắt môi “đồng lõa” theo, mặt mày rạng rỡ. Chỉ có bấy nhiêu cũng đủ cho tim tôi đập thình thịch khi đối diện với nhỏ. Tôi thường dắt xe đạp lẽo đẽo theo sau cả buổi mà nhỏ đó không hề hay biết gì...

 

Tình tôi chỉ là tình câm. Tôi nghĩ con gái hay “nhìn lên”, tuy học chung lớp nhưng tôi chẳng có chi đặc biệt để được lọt vào mắt xanh nhỏ đó. May thay Ông Trời cho tôi cơ hội làm quen với nhỏ. Số là hằng ngày tôi ra biển bơi lội, nên chi tôi bơi như rái. Tôi là tay Vô Địch Bơi Lội Miền Trung Cấp Thiếu Niên; trong khi nhỏ đó là người dễ say tàu say xe. Đã vậy còn ham vui theo cả lớp đi du ngoạn ngoài Phương Mai. Mới bước lên thuyền mấy phút đã thấy mặt mũi xanh dờn, mắt nhắm nghiền; tiếp đến là ôm ngực cúi gập người ôm be thuyền ói mửa. Tôi quan sát thấy tội nghiệp quá chừng. Đợi thuyền đi đến nơi vừa sát mé nước để lên bờ, tôi liền đóng vai “Anh hùng cứu mỹ nhân”, phóng ngay xuống biển chụp vội cái thuyền thúng đưa nhỏ vào bờ trước tiên, giúp cho nhỏ đó khỏi bị sóng nhồi.

 

Và, cũng từ đây đời tôi... “bấp bênh, nhấp nhô như sóng biển”. Tôi vui khi nhỏ đó vui, tôi buồn rầu khi nhỏ đó giận hờn. Tôi lao vào tình yêu như con thiêu thân lao vào ánh đèn. Tình yêu cho tôi đầy đủ hương vị mật ngọt đắng cay. Khi gặp nhau hạnh phúc nói cười, lúc mặt chau mày ủ làm day dứt lòng nhau... thì thử hỏi tâm trí đâu mà học. Do đó năm nào thi cử tôi cũng đậu kỳ nhì. Lấy được mảnh bằng Tú Tài rồi, tôi làm cha mẹ mình vui.

Sinh ra nhằm thời tao loạn ấy, tôi suy nghĩ mình phải có trách nhiệm gì với núi sông, nên trước sau gì cũng phải nhập ngũ để bảo vệ quê hương. Lại thêm anh Võ Trọng Em đang học Võ Bị Đà Lạt khóa 19 về kể chuyện quân trường, nhất là anh ấy mặc bộ quân phục Sinh Viên Sĩ Quan trông quá đẹp và oai hùng, nên tôi trốn nhà đến Quân Trấn tự nguyện làm đơn xin vào trường Võ Bị Đà Lạt khóa 20. Hồ sơ xin vào trường yêu cầu phải có giấy chứng nhận của Chủ Tịch Hội Đồng Xã Qui Nhơn. Tôi đến xin giấy này thì bị chú Chủ Tịch Văn Hòa la “Người ta trốn lính còn mày thì lại làm đơn tình nguyện đi lính. Tao mà ký cho mày thì anh Sáu (tức là cha tôi) sẽ cạo đầu tao”. Chú Văn Hòa có bà con với cha tôi. Tôi xuống nước năn nỉ cỡ nào cũng không được. Dự tính làm người hùng vừa có chức vừa có tiền để cưới vợ đã bị cuốn theo thủy triều luôn.

Tôi quay trở vào Sài Gòn tiếp tục học. Cuối năm nhân dịp về Qui Nhơn ăn Tết với gia đình, tôi gặp mấy người bạn rủ lên An Khê xin làm cho hãng thầu Pacific của Mỹ, nghe nói lương cao, việc làm không khó. Nhờ vốn liếng Anh Ngữ học ở Cường Để tôi được nhận vào làm việc ngay với chức vụ General Foreman, tức là Tổng Cai, trông coi khoảng ba trăm người gồm thợ mộc, thợ hồ, thợ điện, thợ ống nước... để xây cất nhà ở cho quân nhân Mỹ. Tại đây tôi gặp Nguyễn Mỹ Phụng chung trường, Trần Văn Bốn chung lớp và các bạn khác ở các trường Tân Bình, Sùng Nhơn... Chúng tôi cùng trang lứa nhau nên rất vui.

 

Giờ trở lại chuyện “nhỏ Bắc Kỳ dễ say tàu say xe” kia, chúng tôi biết nhau qua người bạn chung lớp, từ quen sang thân rồi tiến dần tới yêu. Rồi người này là lẽ sống của người kia, thời gian kéo dài chín năm. Nhờ vào tình yêu chân thật đầu đời nên mấy anh chàng “Hoa Mai” gắn đầy cổ áo cũng không làm nàng hoa mắt được. Mấy em gái xinh đẹp văn minh đất Sài Thành cũng không làm tôi quên được cô bạn gái chung lớp kia. Đầu năm 1966 chúng tôi được Cha Mẹ hai bên đứng ra làm lễ thành hôn cho.

 

Xin cám ơn Thầy Chiếm đã gián tiếp giúp tôi có cơ hội gặp cô bé Bắc Kỳ và chúng tôi đã không phụ ơn Thầy, cùng nắm tay nhau đi trọn cuộc đời này. Xin cám ơn Thầy đã giúp tôi có vốn liếng căn bản Anh Ngữ làm hành trang vào đời thuận lợi hanh thông. Xin cám ơn Thầy đã giúp tôi khỏi “câm ngọng” trên đất Mỹ.

 

Một lần nữa, tôi xin muôn vàn cám ơn Thầy.

 

Nộ Thủy

(Houston / Texas - 2017)
BÀI MỚI NHẤT
19/02/2020(Xem: 168)
Sài Gòn khi đó vẫn còn chưa lớn rộng như bây giờ. Đường Nguyễn Văn Thoại (ngang khu chợ Tân Bình bây giờ) vẫn rậm lá rừng cao su. Thậm chí đoạn từ Lăng Cha Cả đến ngả tư Bảy Hiền, trên đường Hoàng Văn Thụ bây giờ, vẫn còn là khuôn viên của một trung tâm khảo cứu nông nghiệp.
12/02/2020(Xem: 171)
Gã thích ngắm mưa, gã thích ngắm những tia chớp xé ngang trời, gã thích thả trí tưởng tượng theo những hình thù kỳ quái ấy. Chợt gã nhìn xuống hàng cây đang oằn mình trong gió, gã nghĩ đến những phận người, gã nghĩ đến bà cụ...
11/02/2020(Xem: 244)
Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam Tổng Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan
17/01/2020(Xem: 390)
Thư Mời Đại Hội SPQN tại Houston / Texas
10/05/2019(Xem: 1360)
Xã hội trước đây của thế hệ ông bà / cha mẹ mình thường quan niệm về “tuổi thọ” của một đời người là : Hễ cứ từ 59 tuổi trở xuống mà qua đời thì trên cáo phó / phân ưu ghi là “hưởng dương”. Còn ráng thêm một tuổi nữa là 60 thì được gọi là “hưởng thọ”. Đến thời đại “a còng” này, khi nói đến độ tuổi thì gộp lại thành nhóm và gọi là tắt là “U...”.
08/05/2019(Xem: 1190)
Năm nay tôi đã 75 tuổi. Bình thường lái xe mua sắm, tập tành, bơi lội không thấy gì lạ, nhưng nghe vang lên con số 75 trong đầu, giựt mình, mới thoáng đó mà đã vào tuổi “thất thập lai hy”. Mới ngày nào đó còn đạp xích lô, cắt cỏ, còn làm homework, đỗ bằng Master, đi dạy học trò ở San Jose, giờ đã thành ông cụ rồi sao.